Văn

5 dàn ý bài văn thuyết minh về cây lúa Việt Nam lớp 9

Thuyết minh về cây lúa là kiểu bài văn thuyết minh thường gặp trong chương trình Ngữ văn lớp 9. Mời các bạn cùng tham khảo hướng dẫn chi tiết để nắm được cách lập dàn ý thuyết minh về cây lúa cũng như làm 1 bài văn bài văn thuyết minh về cây lúa Việt Nam lớp 9.

5 dàn ý bài văn thuyết minh về cây lúa Việt Nam lớp 9
5 dàn ý bài văn thuyết minh về cây lúa Việt Nam lớp 9

Đề bài: “Thuyết minh về cây lúa Việt Nam”


Phân tích đề


  • Yêu cầu đề bài: thuyết minh về cây lúa nước Việt Nam
  • Đối tượng: cây lúa nước
  • Phương pháp: thuyết minh

Các luận điểm chính cần triển khai:

  • Luận điểm 1: Đặc điểm, hình dạng, kích thước của cây lúa
  • Luận điểm 2: Các giai đoạn trồng lúa
  • Luận điểm 3: Vai trò của cây lúa và hạt gạo

Dàn ý thuyết minh về cây lúa lớp 9


Mở bài

Gắn liền với hình ảnh làng quê Việt Nam là hình ảnh đồng lúa bao la, trải dài bát ngát.
Cây lúa mang lại nhiều giá trí tốt đẹp.

Thân bài

2.1. Nguồn gốc

Có nguồn gốc từ cây lúa hoang và được người dân đưa vào trồng cách đây hơn một vạn năm.

Trong dân gian, cây lúa được phát hiện bởi một cặp vợ chồng di cư vào rừng do đói kém và tình cờ phát hiện ra hạt lúa do săn bắn chim rừng.

2.2. Chủng loại

Lúa ở Việt Nam có hai loại chính là lúa nếp và lúa tẻ.

  • Lúa nếp: loại lúa có hạt ngắn, thuôn dài hơn lúa tẻ, thường được dùng để nấu xôi, nấu rượu, bánh chưng, v.v.
  • Lúa tẻ: lúa có hạt tương đối nhỏ, được dùng làm lương thực chính trong bữa ăn.

2.3. Đặc điểm

  • Cây lúa là loại cây thân thảo, có thể đạt chiều cao tối đa khoảng 2m.
  • Rễ chùm, chiều dài tối đa lên đến 2 hoặc 3 m
  • Màu lá thay đổi theo từng giai đoạn phát triển, lá phẳng, dài
  • Hoa lúa: màu trắng, có nhụy và nhị hoa nên có thể tự thụ phấn thành hạt gạo nhỏ.

2.4. Quá trình phát triển

  • Nông dân xuống giống vào đầu xuân, cận Tết.
  • Trước khi trồng ra ruộng, mạ được gieo ở khu vực riêng, mạ được ủ ở đó khoảng 3, 4 tuần để phát triển thành cây con.
  • Người nông dân nhổ mạ và bắt đầu cấy lúa trên ruộng.
  • Từ mạ non đến cây con gọi là thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng
  • Thời kỳ tiếp theo là thời kỳ sinh trưởng: cây con ra hoa màu trắng, hoa nở tạo thành hạt gạo được bao phủ bởi lớp vỏ xanh bên ngoài.
  • Thời kỳ lúa chính vụ là lúc hạt lúa từ xanh chuyển dần sang màu vàng nhạt, cây rũ xuống, các lá đầy ngọn dần chuyển sang màu vàng.

2.5. Giá trị

Giá trị sử dụng
  • Lúa là lương thực của nhân dân, là thành phần của nhiều loại lương thực, thực phẩm hàng ngày như bún, phở, bột năng, bột nếp,….
  • Là một nguồn lợi nhuận cho người nông dân
Giá trị tinh thần
  • Gắn bó với dân tộc Việt Nam hơn một vạn năm
  • Việt Nam đứng thứ hai về xuất khẩu gạo trên thế giới

Kết bài

  • Cây lúa có vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người
  • Dù trải qua nhiều thập kỷ nhưng vị thế của cây lúa vẫn không hề thay đổi
Dàn ý thuyết minh về cây lúa lớp 9
Dàn ý thuyết minh về cây lúa lớp 9

5 bài văn thuyết minh về cây lúa việt nam lớp 9


Thuyết minh cây lúa việt nam lớp 9 – 1

Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn. (Ca dao)

Hai câu ca dao ấy thật nhẹ nhàng đã đi sâu vào trái tim của hàng triệu, hàng triệu trái tim Việt Nam mỗi khi nhớ về chốn làng quê thanh bình với những cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay. Và có lẽ, sẽ chẳng ai có thể quên được hình ảnh cây lúa nước – một biểu tượng một nét vẽ đơn sơ, bình dị mà rất đỗi xinh tươi trong bức tranh về làng quê Việt Nam.

Cây lúa là một trong năm loại cây lương thực chủ yếu của thế giới và là loại cây lương thực chủ đạo ở Việt Nam. Cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới và cận nhiệt đới khu vực Đông Nam Á của châu Á và ở châu Phi. Thêm vào đó, cây lúa còn là loài thực vật thuộc một loại cỏ đã được con người thuần dưỡng, đưa vào nhân giống, cấy ghép và phát triển. Và như vậy, với nguồn gốc ấy, cây lúa có thể phát sinh, phát triển một cách nhanh chóng trong điều kiện khí hậu, thời tiết ở Việt Nam.

Nếu như những loài cây lương thực khác trên thế giới như khoai tây, bắp, lúa mì, sắn sống ở trên cạn thì cây lúa lại hoàn toàn khác. Lúa là loài cây thủy sinh, sống và phát triển chủ yếu ở môi trường nước. Thông thường, mỗi cây lúa cao khoảng 1 đến 1,8 mét. Thêm vào đó, lúa là loài cây rễ chùm, vì vậy, nó có thể bám chắc vào trong lòng đất để hút dưỡng chất, cung cấp cho quá trình sinh trưởng, phát triển.

Lúa là loài cây thân thảo, thân cây được chia làm các mắt khác nhau, bên trong thường rỗng. Ở mỗi làng quê, vào vụ gặt, lũ trẻ con thường dùng thân cây lúa để làm nên những chiếc kèn, âm thanh của những tiếng kèn ấy nghe thật vui tai, như góp phần xóa đi cái nắng nóng của mùa hè và sự mệt nhọc của những ngày mùa. Lá cây lúa hình dẹt dài và mỏng mọc bao phủ bên ngoài thân cây.

Tùy vào từng thời kì mà lá cây lúa có độ dài và màu sắc khác nhau. Thì con gái, lúa khoác lên mình những chiếc áo xanh mát và đến gần mùa thu hoạch thì lá lúa chuyển sang màu vàng.

Đặc biệt, sau một thời gian gieo trồng, cây lúa trổ bông. Bông lúa thường dài từ 35 đến 50 xăng-ti-mét, chứa rất nhiều hạt lúa, rủ xuống trông rất tuyệt. Những bông lúa ấy chính là sự kết tinh những tinh hoa của trời đất và tấm lòng, sự cần cù, chăm chỉ của những người lao động nơi chốn làng quê.

Ở nước ta hiện nay thường có hai vụ lúa chính là vụ chiêm (thu hoạch vào khoảng tháng 5, tháng 6 âm lịch) và vụ mùa (thu hoạch vào tháng 8, tháng 9 âm lịch). Song, để cây lúa có thể sinh trưởng, phát triển cần phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Trước tiên, người nông dân phải tìm được giống lúa phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai nơi gieo trồng cây lúa.

Sau khi đã chọn được giống lúa phù hợp, người nông dân sẽ tiến hành ủ giống, đến lúc những hạt lúa giống nảy mầm, người ta sẽ gieo chúng xuống đất, chăm sóc nó đến lúc những mầm xanh nhú lên, những cây mạ xanh ra đời. Trong lúc chờ mạ lớn và cứng cáp hơn, người ta sẽ cày, bừa đất, chờ đến khi cây mạ cứng cáp rồi sẽ đem cấy xuống ruộng.

Những ruộng lúa lúc vừa cấy xuống khoác lên mình một màu áo xanh mơn mởn. Để rồi, đến lúc thì còn gái, cánh đồng lúa trở mình, mặc một chiếc áo xanh sẫm và bắt đầu hình thành bông, những bông lúa bên trong mang dòng sữa trắng ngần, ngọt ngào và thơm phức tỏa ngát cả vùng quê.

Sau một thời gian, lúc lúa ngả sang màu vàng, những bông lúa đã chín, người ta gặt nó mang về nhà rồi tuốt lúa, phơi và xát lúa để tạo nên những hạt gạo. Tuy nhiên, trong quãng thời gian từ lúc cấy lúa đến lúc thu hoạch, những con người nơi đây phải thường xuyên thăm đồng, bắt sâu, bón phân, cung cấp thêm nước để cây lúa có đủ điều kiện tốt nhất để phát triển. Quả thực, quá trình phát triển cây lúa rất phức tạp, bởi vậy đòi hỏi ở người gieo trồng rất nhiều công sức và phải chăng vì thế, nhân dân ta xưa nay vẫn thường có câu:

Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần (Ca dao)

Thêm vào đó, cây lúa giữ một vai trò quan trọng trong đời sống của con người Việt Nam từ xưa đến nay. Từ thời xa xưa, Lang Liêu đã lấy gạo làm bánh kính dâng lên vua cha. Và cũng kể từ đấy, cây lúa đã trở thành một nét đẹp, một biểu tượng của nền văn hóa dân tộc. Trong đời sống của chúng ta ngày nay, cây lúa vẫn luôn giữ một vai tò đặc biệt quan trọng. Hạt lúa chính là nguồn lương thực chủ yếu cho chúng ta mỗi ngày.

Những hạt lúa, hạt gạo ấy chính là “hạt ngọc trời”. Gạo không chỉ dùng làm lương thực chính mỗi ngày mà nó còn là nguồn nguyên liệu làm nên nhiều thứ bánh khác nhau là đặc sản của mỗi miền, đó là bánh đa, là bánh tẻ, là bánh cuốn,… Không chỉ có hạt gạo, thân cây lúa sau khi gặt và phơi khô được gọi là rơm, nó là nguồn thức ăn cho gia súc trong nhà, đồng thời, nó là những “chiếc nệm” giữ ấm cho gia súc trong những ngày mùa đông giá rét.

Đặc biệt, với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, hiện nay nước ta đã lai tạo được hơn 30 giống lúa khác nhau và nước ta là một trong số những nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu lúa gạo. Điều đó thêm một lần nữa chứng minh cho chúng ta thấy vai trò, vị trí to lớn của cây lúa trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước.

Thuyết minh cây lúa việt nam lớp 9
Thuyết minh cây lúa việt nam lớp 9

Thuyết minh cây lúa việt nam lớp 9 – 2

Mỗi một đất nước, một dân tộc, một mảnh đất có những loại cây riêng với quê hương mình. Và ở nước ta cây lúa mộc mạc, bình dị đã trở thành cây nông nghiệp gần gũi, gắn bó nhất trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Cây lúa ấy đã trở thành nguồn cảm hứng của biết bao nhà văn, nhà thơ khi viết về vẻ đẹp quê hương.

“Việt Nam đất nước ta ơi

Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

Cánh cò bay lả rập rờn

Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều.”

Cây lúa thuộc loại cây rễ chùm, ưa nước. Cây lúa phát triển qua từng thời kì khác nhau, trải qua quá trình chăm sóc, tưới tiêu vất vả, cần mẫn của người nông dân mới cho những bông lúa uốn câu vàng óng. Cây lúa khi còn ở thời kì con gái trông duyên dáng như một thiếu nữ yêu kiều thướt tha trong bộ cánh xanh non mỡ màng. Lá lúa dài như những lưỡi kiếm, thi thoảng có làn gió thổi qua như những chiến binh đang múa kiếm nghệ thuật vui tai. Thân lúa mảnh, nhỏ, gồm nhiều lớp vỏ ngoài dầy bọc lấy nhau, như những cánh tay đang ôm ấp để bảo vệ bên trong. Cây lúa khi chín mang trên mình bộ cánh mới, không còn là màu xanh mỡ màng, trẻ trung đầy sức sống nữa mà là màu vàng óng, ngây ngất thơm mùi sữa non.

Cây lúa luôn mang trên mình mùi hương rất đặc biệt, đó là mùi của đất quê, của hồn quê mộc mạc, thân thương, của những tấm lòng cần mẫn, chịu thương chịu khó, quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời. Hạt lúa khi chín được bọc bên ngoài là lớp vỏ trấu màu vàng, bên trong là hạt gạo tròn, chắc mẩy bụ bẫm trông đến là thích mắt. Hạt gạo trắng ngần ấy là tinh hoa của mồ hôi, công sức nước mắt người dân lao động tụ lại để dâng lên hương trời. Vậy nên hương lúa lúc nào cũng thế, có mùi thơm ngát, rất ngậy, rất thơ.

Có nhiều loại lúa khác nhau, phù hợp với từng vùng miền, khí hậu riêng. Các loại thóc thường phổ biến là thóc nếp, thóc BC, thóc Việt Hương, thóc Tạp Giao, thóc Tám…Mỗi loài có những cách chăm sóc khác nhau, tưới tiêu và công dụng khác nhau, nhưng tựu chung lại đều rất hữu ích và là một nguồn lương thực không thể thiếu với người nông dân.

Cây lúa có rất nhiều công dụng. Trước hết nó là cây lương thực chính của nước ta, đồng thời cũng là thương hiệu, đưa nước ta trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới. Hơn nữa, những cách chế biến khác nhau đem đến cho cây lúa rất nhiều lợi ích khác nhau. Hạt gạo trắng ngần là nguyên liệu để làm các sợi phở, bún, các loại bánh đa. Những loại cơm gạo, cơm cháy ruốc, bánh gạo, nước gạo rất tốt cho sức khỏe. Cây lúa cũng chính là nguyên liệu chính làm nên món bánh chưng bánh giầy-món ăn truyền thống trong mỗi dịp lễ, tết ở Việt Nam ta. Hay một thứ quà của lúa non đó là cốm đã được nhà văn Thạch Lam đưa vào trang văn của mình đầy trân trọng, tự hào.

Nhưng để có được hạt gạo trắng ngần, cây lúa phải phát triển khỏe mạnh, vì thế đòi hỏi sự chăm sóc tỉ mẩn, cẩn trọng của người nông dân. Đặc biệt là việc tưới tiêu, vì là một loại cây ưa nước nên việc cung cấp đủ nước cho cây là rất quan trọng, ngoài ra người nông dân cũng liên tục phải quan sát trên cây lúa xem có những dấu hiệu bất thường nào khác để kịp thời tưới phân, chăm bón đúng lúc. Để làm ra hạt gạo nuôi sống con người không phải là điều gì dễ dàng, vì thế hạt gạo càng cần được trân trọng hơn bao giờ hết.

Cây lúa thật đẹp, một nét đẹp mộc mạc tinh túy của người dân đất Việt. Cây lúa đã trưởng thành, phát triển cùng với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trải qua biết bao cuộc đấu tranh gian khổ, cây lúa đã gắn liền với sự hy sinh chiến đấu, là lương thực giúp các anh đỡ đói lòng để vững tay súng. Có lẽ, dù trong chặng đường tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa của dân tộc bây giờ và mai sau có phát triển chăng nữa, cây lúa cũng sẽ không bao giờ mất đi vai trò quan trọng của mình

Thuyết minh cây lúa việt nam lớp 9
Thuyết minh cây lúa việt nam lớp 9

Thuyết minh cây lúa việt nam lớp 9 – 3

Từ ngàn đời nay, cây lúa đã gắn bó với con người làng quê Việt nam. Và đồng thời cũng trở thành tên gọi cho một nền văn minh – nền văn minh lúa nước. Cây lúa không chỉ mang lại sự no đủ mà còn trở thành một nét đẹp trong đời sống văn hóa và tinh thần hạt lúa và người nông dân cần cù, mộc mạc là mảng màu không thể thiếu trong bức tranh của đồng quê Việt nam hiện nay và mãi mãi về sau.

Lúa là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới.

Đối với người Việt chúng ta cây lúa không chỉ là một loại cây lương thực quý mà còn là một biểu tượng trong văn chương ẩn dưới “bát cơm”, ”hạt gạo”. Việt Nam, một nước có nền kinh tế nông nghiệp từ hàng ngàn năm nay. Từ một nước thiếu lương thực trầm trọng trong những năm chiến tranh nhưng hiện nay, nền nông nghiệp của nước ta không chỉ sản xuất ra đủ một lượng lớn lương thực đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn trên thế giới. Trong đó ngành trồng lúa ở nước ta là một trong những ngành ngành sản xuất lương thực vô cùng quan trọng và đạt được những thành tựu đáng kể, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới.

Đối với người Việt nói riêng hay phần lớn dân Á châu nói chung, cây lúa (tên khoa học là Oryza sativa) và hạt gạo là một loại thực phẩm hết sức gần gũi và đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong dinh dưỡng. Ngay từ khi còn trong lòng mẹ, chúng ta đã làm quen với cơm gạo, và lớn lên theo cây lúa cùng hạt gạo. Với bản sắc văn hóa nông nghiệp, cây lúa và hạt gạo còn là một biểu tượng của cuộc sống. Ca dao, khẩu ngữ chúng ta có câu “Người sống về gạo, cá bạo về nước”, hay “Em xinh là xinh như cây lúa”, v.v…

Qua hàng nghìn năm lịch sử, lúa đã là cây lương thực chủ yếu nuôi sống các thế hệ người Việt cho đến nay. Trong đời sống tinh thần của con người, cây lúa cũng gắn bó thân thiết vô cùng. Điều đó được thể hiện rất rõ trong ngôn ngữ hàng ngày, trong cách nói, cách đặt tên, gọi tên từ cửa miệng của những người hai sương một nắng.

Bắt đầu từ lúc ném hột mộng xuống đồng. Thông thường ném buổi sáng thì buổi chiều mộng “ngồi” được, tức là rễ đã bám được vào đất và mầm nhọn đã xuôi hướng lên trời. Bác nông dân hoàn toàn có thể yên tâm vì nó đã sống được trong môi trường mới, đích thực của nó.

Qua hôm sau, mầm nhú lên cao hơn, bắt đầu có chút xanh xanh, người ta bảo là mạ đã “xanh đầu”. Mạ cũng có “gan”. “Gan mạ nằm ở thân non, dễ bị gãy nát. Nhổ không khéo, nhỡ để giập “gan” thì dảnh mạ sẽ “chết”.

Cấy xuống được vài ba hôm thì lúa đâm rễ mới, gọi là bén chân hay “đứng chân”. Cũng như chữ “ngồi” ở trên, chữ “đứng chân” rất chính xác, rất hình tượng, vì chỉ vài ba hôm trước do mới cấy, mọi cây lúa đều ngả nghiêng, xiêu vẹo, thậm chí có cây còn bị nổi trên mặt nước nữa. Giờ đây đã “đứng chân” được, tức là cũng giống như người ta, có một tư thế đứng chân vững vàng, đã chắc chắn bám trên mặt đất.

Khác với lúc nảy mầm, cây lúa sinh sôi bằng cách “đẻ nhánh”. Nhánh “con” nhánh “cái” thi nhau mọc ra, tần vần thành khóm. Vào khoảng tháng hai âm lịch, khắp cánh đồng mơn mởn màu xanh. Dáng cây thon thả, mềm mại, sắc lá non tơ đầy sức sống gợi cái gì đấy tươi trẻ, xinh xắn, dịu dàng. Đó chính là lúc cây lúa “đang thì con gái”, thời đẹp nhất của đời lúa, đời người. Gặp hôm trời quang mây tạnh, đứng ở đầu làng mà trông, cánh đồng trải ra bát ngát, đẹp tựa bức tranh.

Hết thời kỳ xuân xanh, lúa chuyển sang giai đoạn “tròn mình”, “đứng cái” rồi “ôm đòng”. Đòng lúa to nhanh, nắng mưa rồi mỗi ngày mỗi khác. “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ/Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”. Nếu mưa thuận gió hoà chỉ mươi hôm là lúa trỗ xong. Nhưng chẳng may gặp kỳ khô hạn thì đòng không trỗ lên được, người ta bảo bị “nghẹn”. “Nghẹn” là cực lắm rồi, là có cái gì nó vương vướng, như uẩn ức trong lòng…

Ngoài ra cũng có thể bị “ngã”, bị “nằm” lúc gặp gió lớn mưa to. Ông bà ta sợ nhất cảnh này vì mấy tháng trông cây đã sắp đến ngày hái quả. Nếu chẳng may bị “ngã” non thì hột thóc sẽ lép lửng, coi như hỏng ăn. Còn lúa “nằm” dưới nước, ngâm độ vài ngày thì hột thóc trương lên, nứt nanh và nảy mầm ngay trên bông. Mầm nhú trắng trông xót ruột. Xót ruột về khoe vui với nhau, thóc nhà tôi “nhe răng cười” ông ạ!

Người nông dân xưa nay vốn mộc mạc, chất phác. Chẳng phải họ văn vẻ gì đâu. Chỉ vì gần gũi quá, thân quen quá. Ban ngày vác cuốc ra đồng thăm lúa. Ban đêm giấc mơ toàn thấy những cây lúa. Lúa là đói no, là người bạn có thể sẻ chia nỗi niềm, buồn vui tâm sự. Trải qua chiều dài các thế hệ, đời lúa lặn vào đời người. Và rồi, đời người lại chan hoà, gửi gắm vào đời lúa thông qua những từ ngữ nôm na, những tên gọi sinh động kể trên.

Cây lúa gần gũi với người nông dân cũng như bờ tre, khóm chuối. Bởi vậy thấm đẫm tình người và hồn quê, càng nắng mưa, sương gió, càng nồng nàn hoà quyện thân thương.

Nông nghiệp Việt Nam vốn mang dáng dấp một nước nền công nghiệp lúa nước bao đời nay cho nên cây lúa gắn bó, gần gũi với người Việt, hồn Việt là lẽ dĩ nhiên.

Thuyết minh cây lúa việt nam lớp 9
Thuyết minh cây lúa việt nam lớp 9

Thuyết minh cây lúa việt nam lớp 9 – 4

Việt Nam với vị trí địa lý gần biển, có hệ thống sông ngòi dày đặc và đất phù sa màu mỡ, nông nghiệp lúa nước là ngành nghề chính, mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội. Cây lúa nước đã gắn bó với nhân dân ta từ rất lâu đời, trở thành nguồn thu nhập chính của người nông dân, đưa Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới.

Cây lúa nước Việt Nam thuộc giống lúa châu Á, đến nay, nguồn gốc của loại lúa này vẫn đang là một câu hỏi lớn đối với các nhà nghiên cứu. Những nền văn minh lúa nước đầu tiên của nhân loại như Ấn Độ, Trung Quốc là những nơi được cho là cái nôi của cây lúa nước Việt Nam.

Cây lúa nước là loại cây sống trong môi trường nước ngọt, nhiều phù sa bồi đắp, phân bố chủ yếu ở vùng Đồng Bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Cây lúa có đường kính từ 2 – 3cm, cao từ 60 – 80cm. Thân lúa chia làm ba bộ phận chính: rễ cây, thân cây và và ngọn. Rễ cây là cơ quan hấp thụ chất dinh dưỡng và nước từ đất, thân cây với chức năng vận chuyển, trao đổi chất để đưa tới ngọn cây. Từ ngọn cây sẽ nảy mầm thành những hạt lúa. Hạt lúa trổ sẽ có màu vàng, gọi là hạt thóc bên ngoài là lớp vỏ trấu cứng, tiếp theo là lớp màng mỏng bảo vệ hạt gạo, gọi là cám gạo, bên trong cùng là hạt gạo trắng ngần. Khi hạt lúa chín đủ độ, người ta gặt cả cây lúa ngoài đồng, mang về tuốt lấy hạt, trải qua quá trình xay xát, phơi nắng để trở thành hạt gạo hoàn chỉnh.

Thuyết minh về cây lúa Việt Nam để thấy được đặc điểm, đặc tính sinh học và công dụng của lúa nước

Vụ mùa lúa ở Việt Nam có hai mùa chính: đông – xuân và hè – thu. Khi đến mùa, người nông dân bắt đầu làm đất, cày xới xới cho đất trở nên tơi xốp, dẫn nước nguồn vào ruộng lúa để trữ nước cho sự phát triển của cây, nhổ cỏ dại, gốc rạ còn tồn đọng từ mùa lúa trước Nước là một trong những yếu tốt quan trọng nhất trong việc gieo trồng lúa. Sau khi gieo mạ, lứa mạ xanh sẽ đâm chồi. Gieo mạ phải gieo bằng tay, mật độ vừa phải, gieo thẳng hàng, thẳng lối. Tiếp theo là bước bón phân, cải tạo đất để kích thích cây lúa phát triển. Một cây lúa khỏe mạnh không chỉ phụ thuộc vào giống lúa, mà còn do cung cách chăm sóc, bón tưới phù hợp với mục đích và tình trạng đất. Trong cả một mùa lúa, người nông dân phải liên tục bổ sung nước, làm cỏ, diệt trừ sâu bệnh, loài gặm nhấm, chim chóc phá hoại mùa màng. Lúa chín có thể thu hoạch bằng tay hoặc bằng máy, tuốt lúa lấy hạt và để lại rơm, rạ.

Cây lúa cho hạt gạo, nguồn thực phẩm chính của người dân Việt Nam. Để phục vụ cho nhu cầu người tiêu dùng, trên thị trường có rất nhiều những loại gạo khác nhau, những giống lúa được nuôi trồng, lai tạo khác nhau. Từ hạt gạo, chúng ta có thể nấu thành cơm, xay bột gạo làm ra những loại bánh cổ truyền. Hạt gạo cũng là nguyên liệu để tạo ra bánh đa, phở, bún,…

Hầu hết tất cả các bộ phận của cây lúa đều có thể sử dụng trong đời sống. Lớp vỏ trấu bên ngoài hạt gạo có thể làm thức ăn cho gia cầm, dùng để ủ ấm ổ gà, ổ vịt, hay ủ thành phân bón cho cây trồng. Phần thân lúa sau khi đã tróc hết hạt lúa được dùng làm rơm, rạ đốt bếp, phục vụ nhu cầu nấu nướng hoặc sưởi ấm, của con người. Rơm, rạ từ thân lúa còn có thể đan, bện, tết thành chổi, rễ và những vật dụng trang trí khác.

Đối với kinh tế, Việt Nam là một nước nông nghiệp điển hình với diện tích nông thôn vượt trội so với đô thị. Ngành nông nghiệp lúa nước đóng góp cho kinh tế Việt Nam từ nguồn lợi xuất khẩu gạo, làm nguồn thu chính cho nông dân, cung cấp lương thức cho đại bộ phận nhân dân trong nước.

Về mặt tinh thần, cây lúa là biểu tượng của đất nước Việt Nam, gắn liền với cuộc sống của người dân. Cây lúa xuất hiện trong quốc huy Việt Nam với ý nghĩa là nòng cốt phát triển. Trong thơ ca nhạc họa, hình ảnh cây lúa gắn liền với tuổi thơ của nhiều người như bài thơ Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa hay những câu ca dao tục ngữ quen thuộc:

Trời mưa cho lúa thêm bông
Cho đồng thêm cá, cho sông thêm thuyền.

Cây lúa có giá trị cả về vật chất và tinh thần. Hình ảnh cây lúa gắn liền với đời sống nhân dân Việt Nam. Giữa nền cơ cấu kinh tế công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cây lúa vẫn đã và đang là nguồn kinh tế trọng điểm của đất nước, tạo công ăn việc làm cho phần lớn người dân trong nước.

Thuyết minh cây lúa việt nam lớp 9
Thuyết minh cây lúa việt nam lớp 9

Thuyết minh cây lúa việt nam lớp 9 – 5

“Trời cao đất rộng thênh thang

Tiếng hòa giọng hát ngân vang trên đồng,

Cá tươi gạo trắng nước trong,

Hai mùa lúa chín thơm nồng tình quê.”

Trải dọc theo hình chữ S của đất nước Việt Nam, bước dài trên con đường ven dọc bờ sông của thôn quê, ta lại ngửi thấy mùi thơm bay ngan ngát đâu đây.

Đó chẳng phải là mùi của món ăn thôn xóm mà cũng không là mùi hương từ mái tóc người con gái nông thôn mà đó là mùi thơm ngào ngạt của cánh đồng lúa chín đang phấp phới cùng gió bay.

Cây lúa không như những loài cây khác chỉ đem đến sự hữu ích cho con người mà cây lúa còn gắn liền với những nét truyền thống văn hóa kinh tế của đất nước ta một thuở.

Ra đời từ khá lâu về trước, cây lúa được xem là một trong những loài cây thuộc nhóm cây lương thực được con người sử dụng để ăn hoặc để bán hàng ngày. Cây lúa tuy mỏng manh, yếu đuối nhưng lại là loài cây lương thực không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Nguồn gốc ra đời của cây lúa cho đến ngày hôm nay vẫn chưa được ai tìm ra.

Người ta chỉ biết cây lúa ra đời từ khá sớm ở khu vực Đông Nam Châu Á, khi mà con người chỉ mới biết dùng đồ dùng bằng đồng. Sau đó, cây lúa được thuần hóa ở nhiều quốc gia như Trung Quốc, Myanmar, Ấn Độ, trong đó có cả Việt Nam.

Có thể nói Việt Nam là một trong những trung tâm sớm nhất tiếp nhận sự xuất hiện của cây lúa. Khi phát hiện ra loài cây này, con người đã lấy đập vỏ của nó để lấy hạt màu trắng nấu ăn nhưng không ngờ nó lại ngon và khiến cho con người cảm thấy no nên từ đó họ đã sử dụng giống cây này để vun trồng trong cuộc sống.

Bằng cách nào đó, khi mới phát hiện công dụng của loài cây này, cây lúa đã đi đến khắp mọi nơi trên thế giới và được nhiều quốc gia tiếp đón và nhập khẩu vào nước để sử dụng. Từ đó, cây lúa đã trở thành loài cây lương thực chính của con người trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Cây lúa gắn liền với truyền thống của một nền nông nghiệp lúa nước ở nước ta một thời.

Sự ra đời của cây lúa đã mang đến nhiều lợi ích cho cuộc sống của con người chúng ta. Từ trước tới bây giờ, cây lúa vẫn mãi là loài cây không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày của con người.

Vì vậy, để hiểu rõ hơn về cấu tạo cũng như những lợi ích gì mà cây lúa đã mang đến, bạn hãy cùng với tôi khám phá rõ hơn về loại cây này nhé! Rễ cây lúa thuộc loại rễ chùm. Rễ lúa xuất phát từ phôi của hạt, hay còn gọi là rễ mộng, rễ mầm. Loại rễ này ban đầu chỉ có một chiếc và chỉ sống được trong vòng một tháng, có nhiệm vụ hút nước để cung cấp nuôi phôi.

Sau khi rễ mộng chết đi thì những loại rễ phụ ( rễ bất định ) mọc lên và trở thành bộ rễ của cây để hút chất dinh dưỡng nuôi cây phát triển. Rễ non có màu trắng sữa và đến khi già đi thì có màu đen. Rễ lúa cũng như một số loài cây khác, phát triển qua từng thời kỳ, từ thời kỳ cấy mạ đến thời kỳ lúa trổ bông thì bộ rễ lúa có thể có tới khoảng 800 rễ, dài, bám sâu vào lòng đất.

Thân cây lúa rất mỏng manh và có thể dễ bị gãy. Thân lúa có nhiều lóng và sự phát triển của lóng này có bao nhiêu thì số lá trên thân lúa cũng có bấy nhiêu. Mỗi một lóng được ngăn cách bởi đốt thân.

Phần bên trong của đốt rỗng, phần bên ngoài bao gồm bó mạch với chức năng dẫn nước và cung cấp chất dinh dưỡng để nuôi cây trong suốt thời kỳ sinh trưởng và ra bông.

Một thân cây lúa trưởng thành có thể có từ 3-8 lóng. Lóng ở trên cùng, sát với bông lúa là lóng dài nhất, khoảng 5mm và cứ như vậy những lòng còn lại tính từ lóng thứ hai xuống lóng nằm sát bộ rễ sẽ có chiều dài nhỏ dần đi. Thân cây lúa nếu có nhiều lóng dài thì dễ bị gãy, còn nếu có nhiều lóng ngắn thì sẽ ảnh hưởng đến năng suất của cây.

Vì vậy, khi trồng lúa, bạn nên chú ý vào đặc điểm này của thân cây. Nhánh lúa được phát triển từ thân chính của cây. Thân chính đẻ ra nhánh cấp 1, nhánh cấp 1 đẻ ra nhánh cấp 2, nhánh cấp 2 đẻ ra nhánh cấp 3 và cứ thế mà các nhánh khác sẽ được tạo thành. Cây chỉ được đẻ nhánh khi có từ 4-5 chiếc lá thật.

Những nhánh ra sớm được gọi là nhánh hữu hiệu và những nhánh ra vào cuối giai đoạn của cây được gọi là nhánh vô hiệu. Do đó, để nhánh ra sớm hơn thì bạn nên chọn loại giống mới nhưng an toàn và cũng nên chú ý vào các yếu tố bên ngoài như khí hậu,…Lá lúa bao gồm: bẹ lá, phiến lá, thìa lá và tai lá.

Lá thật của lá lúa được người ta xem lá lúa thứ hai mọc ra. Bẹ lá bao quanh phần non của thân và cuốn dài thành hình trụ. Phiến lá hẹp và thẳng. Lá thìa hình tam giác, nhỏ. Tai lá có hình lưỡi liềm.

Hoa lúa gồm bầu nhị, vỏ trấu và bao phấn. Khi nở hoa thụ phấn thì vỏ trấu chịu áp lực của vòi nhị mở ra, bao phấn cũng mở ra để hạt phấn rơi vào bầu nhụy, phát triển thành hạt. Sau đó bao phấn sẽ bị đẩy ra ngoài khỏi vỏ trấu đến khi vòi nhị héo đi và bao phấn rụng đi thì đã kết thúc quá trình nở hoa thụ phấn.

yếu tố bên ngoài như thời tiết, nhiệt độ cũng đều sẽ ảnh hưởng đến quá trình này của cây. Vì vậy bạn nên chú ý cẩn thận. Sau khi thụ phấn thì sẽ đến quá trình thụ tinh của cây lúa, trong khoảng 8 giờ.

Lúc đó, phôi và phôi nhủ sẽ bắt đầu hình thành. Chỉ sau 2 tuần, phôi của hạt đã được hình thành và nằm dưới bụng hạt. Phần phôi nhủ cũng phát triển nhanh không kém. Và cứ thế trải qua sau 21 ngày thì hạt lúa đã đạt đến khối lượng tiêu chuẩn lớn nhất.

Cách trồng để cho ra những hạt gạo từ cây lúa ngan ngát mùi thơm khá đơn giản. Bước đầu đem hạt giống đã nảy mầm đi gieo trồng. Sau khi cây mọc dài từ 10-20cm thì bắt đầu cấy lúa.

Trong quá trình khi cấy lúa và sau khi cấy lúa, bạn nên chăm sóc cây lúa cẩn thận, cần phải chú ý đến những yếu tố như khí hậu, nhiệt độ, độ ẩm, sâu bệnh, và quá trình cây phát triển để cho ra những hạt thóc giàu chất dinh dưỡng và đạt năng suất cao nhất có thể

. Khi cây lúa chuyển sang màu vàng và đã trổ bông thì cũng là đến mùa thu hoạch lúa. Sau khi thu hoạch xong, người ta sẽ tiếp tục cấy để dành cho mùa lúa năm sau.

Nói về công dụng của cây lúa thì có lẽ đã quá quen thuộc với cuộc sống của con người. Lúa cho ra hạt, con người lấy hạt để chế biến thành cơm dùng trong các bữa ăn hàng ngày.

Trong suốt một ngày làm việc, con người sẽ cảm thấy khá mệt mỏi nếu như không ăn cơm vì trong hạt gạo có thành phần tinh bột rất cần thiết cho con người. Món cơm có thể nói là món ăn truyền thống của tất cả mọi gia đình trên thế giới.

Không chỉ chế biến thành cơm trong mỗi bữa ăn mà còn có thể làm thành cháo, xôi,…rất nhiều món ăn khác nhau được chế biến từ hạt gạo. Gạo còn dùng để buôn bán trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài. Việt Nam nước ta tự hào vì là nước đứng thứ 2 về xuất khẩu gạo lớn nhất trên thế giới.

“Bao xa cách nay về thăm lại

Cánh đồng làng nhẫn nại công cha

Ngạt ngào hương lúa tỏa xa

Đượm mồ hôi mẹ rớt qua tháng ngày!”

Cây lúa không chỉ đối với riêng Việt Nam mà đối với cả thế giới sẽ là loài cây không thể thiếu trong cuộc sống của con người.


Bài viết trên đây đã gợi ý những dàn ýbài văn thuyết minh về cây lúa Việt Nam lớp 9. Hy vọng bài viết trên có thể giúp ích cho các bạn trong việc vận dụng vào các bài tập làm văn của mình.

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *